Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữa bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Thực phẩm ngừa 8 bệnh ung thư thường gặp

Một chế độ dinh dưỡng đa dạng sẽ giúp phòng ngừa ung thư hiệu quả. Nhưng với những người có nguy cơ mắc 1 loại ung thư nào đó thì ăn nhiều 1 trong các loại thực phẩm sau sẽ giúp giảm phần nào nguy cơ mắc bệnh.

1. Rau chân vịt



Trong rau chân vịt có nhiều chất chống ô-xy hoá, giúp hỗ trợ ngăn ngừa các tổn thương dẫn đến ung thư do các phân tử gốc tự do gây ra. Mỗi ngày ăn 1 bát rau chân vịt có thể làm giảm một nửa tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi.

Cà chua, cà rốt, bí đỏ, lê và táo cũng có tác dụng phòng chống căn bệnh này.

2. Rong biển



Rong biển không chỉ có hàm lượng vitamin E và chất xơ phong phú mà còn rất giàu iốt.

Theo các nhà khoa học, việc thiếu iốt là một trong những nguyên nhân gây ung thư vú. Phụ nữ Nhật bản có tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú thấp nhiều khả năng do thường xuyên ăn các loại thực phẩm thuộc họ tảo biển. Vì thế ăn rong biển thường xuyên sẽ có tác dụng ngăn ngữa căn bệnh này.

Các thực phẩm như khoai lang, cà chua, các loại đậu…cũng có công dụng phòng ngừa căn bệnh trên.

3. Cần tây





Cần tây có hàm lượng chất xơ phong phú, sau khi vào ruột, giúp đẩy nhanh tốc độ bài thải các chất cặn bã, rút ngắn thời gian “lưu trú” của các độc tố của thực phẩm trong dạ dày, giúp phòng ngừa ung thư đại tràng.

Ngoài ra, thường xuyên ăn tỏi cũng giúp giảm 30% nguy cơ mắc bệnh ung thư kết tràng.

Khoai lang, bắp cải cũng có tác dụng ngừa ung thư ruột.

4. Hoa lơ



Thường xuyên ăn các thực phẩm cùng họ hoa lơ, súp lơ xanh… giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tuỵ. Một nghiên cứu cho thấy chất axit folic có trong các loại thực phẩm đóng vai trò quan trọng này.

Đồng thời, nếu ăn cà rốt kết hợp mù tạt sẽ hỗ trợ cho hoạt động của dạ dày và ruột, hỗ trợ tiêu hoá. Gần đây, nghiên cứu đã chứng minh cà rốt cũng có tác dụng phòng ung thư tuyến tuỵ.

5. Măng tây



Măng tây có hàm lượng vitamin, rutin…phong phú, có tác dụng nhất định với các bệnh ung thư da, ung thư bàng quang…

6. Đậu tương





Các chế phẩm từ đậu tương như đậu phụ, sữa đậu có thể bổ sung hoóc-môn estrogen thực vật, có tác dụng chống oxy hoá, có khả năng khống chế sự phát triển của bệnh ung thư cổ tử cung, làm giảm mức độ phân tách của các tế bào ung thư. Đồng thời cũng có công hiệu ngăn ngừa di căn do ung thư phổi.

Ngoài ra, cà chua, mơ chua cũng có tác dụng ngăn ngừa ung thư cổ tử cung.

7. Tỏi



Những người thuờng xuyên ăn tỏi sống ít bị ung thư dạ dày. Vì tỏi giúp làm giảm rõ rệt hàm lượng muối axit Amyl Nitrite, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới ung thư dạ dày.

Những người hay ăn hành tây cũng giảm 25% nguy cơ mắc bệnh này so với những người ít ăn hoặc không ăn thực phẩm này.

Ngoài ra, ăn ít các thực phẩm ướp muối, cá nướng…cũng là cách tốt để ngăn ngừa bệnh ung thư dạ dày.

8. Nấm ăn



Các loại nấm ăn như nấm hương… đựợc mệnh danh là loại thực phẩm chống ung thư hàng đầu. Do có hàm lượng chất chống ung thư phong phú, các loại nấm có thể thúc đẩy việc hình thành việc hình thành các kháng thể, khống chế các tế bào ung thư phát triển. Các loại nấm này có thể đề kháng lại các chứng ung thư ruột, ung thư tuyến hạch…, đặc biệt rất có ích cho người bị ung thư gan.

Uống trà giúp giảm mệt mỏi

Một tách trà sẽ giúp bạn giải các câu đố nhanh hơn, theo một nghiên cứu mới nhất tại Hà Lan và được đăng tải trên tạp chí Nutritional Neuroscience.



Các nhà khoa học cho biết thành phần tự nhiên tìm thấy trong trà có thể giúp tăng cường chức năng não bộ và tỉnh táo.

Các nhà nghiên cứu Hà Lan đã tìm thấy ảnh hưởng của các chất có tính quyết định tìm thấy trong trà sau khi thực hiện kiểm tra trên 44 tình nguyện viên.

Ảnh hưởng của những thành phần này, 1 axit amino có tên L-theanine - mà cũng tìm thấy trong nước chè xanh tươi - và cafein ở mức độ đặc trưng tìm thấy trong 1 tách trà, so sánh với điều trị bằng giả dược.

Những thành phần hoạt hóa này giúp tăng mức độ chính xác khi thực hiện nhiệm vụ ghi nhớ các chữ số cho những người uống trà sau 20 phút và 70 phút so với những người dùng giả dược. Sự tỉnh táo của những người uống trà cũng tăng lên, nghiên cứu chỉ rõ. Trà cũng giúp giảm mệt mỏi ở những tình nguyện viên dưới 40 tuổi. “Kết quả này cho thấy kết quả kép này giúp tăng cường tập trung khi thực hiện các nhiệm vụ khó”, các nhà nghiên cứu nói.

Các khảo sát trước đó cho thấy thêm sữa vào trà không ảnh hưởng đến sự hấp thụ chất chống ôxy hóa flavonoid hay phá vỡ những tác dụng sức khỏe của các chất này.

Uống trà cũng được cho là liên quan với việc giảm nguy cơ bệnh tim, ung thư và Parkinson. Nghiên cứu khác cho thấy uống trà thường xuyên từ 10 năm trở lên giúp cải thiện mật độ xương.

BS Tim Bond cho biết những phát hiện mới nhất này cho thấy uống 2 tách trà đen giúp cải thiện khả năng phản ứng và độ tập trung khi thực hiện các nhiệm vụ cần tới tay”.

Món ăn giúp nhẹ… lòng

“Không ăn thì đói, ăn vào thì no, người mệt mỏi, nặng bụng, khó tiêu…”. Đây là lời than vãn của nhiều người khi bước qua tuổi 30. Những món “trợ lực”, giúp hệ tiêu hóa dễ dàng “làm việc” dưới đây sẽ là một lựa chọn hữu ích.


Các món ăn có gừng xả đều hỗ trợ rất tốt cho hệ tiêu hóa

Lương y Đinh Công Bảy,- Hội Dược liệu TPHCM, cho biết: “Thứ đầu tiên cần chú ý là các gia vị đi kèm với món ăn. Các loại tiêu, hành, gừng, sả, ớt đều có công dụng làm ấm nóng hệ tiêu hóa. Nhờ sự “kích thích” này mà hệ tiêu hóa khởi động tốt”. Các món nên ăn gồm: cá chép kho riềng (món này kho rất cầu kỳ, đun nhỏ lửa đến khi xương cá mềm rục mới ngon), gà kho gừng, cá chẽm hấp hành gừng (trong nguyên liệu còn có đông cô, cải mầm là những món rất dễ tiêu và bổ dưỡng), cua xào hành gừng. Món ăn có thêm sả như ốc bươu xào sả ớt, bò xào sả ớt, đậu hủ chiên sả ớt, mì căn xào sả ớt… vừa ngon miệng, vừa dễ tiêu. Món giúp ấm nóng cơ thể còn có bắp bò nấu tiêu xanh.

Khi cơ thể thường xuyên cảm thấy khó tiêu, nên ăn những món như canh cải cá thát lát cho thêm vài lát gừng, vừa khử mùi tanh của cá, vừa kích thích vị giác; canh cải đắng nấu thịt nạc với gừng; nước luộc bắp cải dầm cà chua, gừng; canh đậu hủ trắng nấu với thịt nạc, hẹ vừa mát vừa bổ phổi. Riêng canh chua là món vừa dễ tiêu vừa giúp tỉnh táo sảng khoái, nhất là những lúc đi đường xa, mỏi mệt…

Món cháo thường được dùng khi cơ thể mệt nhọc là giải pháp các cụ dùng từ xa xưa và có giá trị đến ngày nay. Có rất nhiều loại cháo, vùng Củ Chi, TPHCM có cháo dựng bê nấu với đậu xanh, khoai mì. Món này, tất cả đều nấu nhừ lại ít mỡ nên rất dễ tiêu. Món cháo bồ câu nấu với đậu xanh cũng rất tốt cho những ai luôn cảm thấy nặng… lòng. Cháo cá lóc, cháo hến, cháo bò, cháo gà… luôn kèm thêm các gia vị tốt cho hệ tiêu hóa như hành, gừng, răm… Ngoài ra, còn có cháo nấu với ngũ cốc như: cháo đậu xanh, cháo đậu đỏ…

Cũng là cháo, nhưng lại ẩn chứa nhiều nguy cơ là món cháo lòng, những người cao huyết áp, rối loạn mỡ máu nên thận trọng vì có thể làm bệnh nặng hơn. Bởi, các món đồ lòng như phèo non, gan, tim chấm nước mắm mặn là… thủ phạm làm tăng huyết áp, cholesterol. Tương tự, cháo gà và cháo vịt nên ăn vừa phải, tức là một bát cháo gà và khoảng hai - ba miếng gà, vịt đã bỏ da, mỡ, xương.

Theo lương y Đinh Công Bảy, các loại rau thơm cũng có khả năng trợ lực cho việc tiêu hóa đạm động vật. Cụ thể, tía tô giúp “xay nhừ” tôm, cua, ốc; lá lốt, ngò gai “làm mềm” thịt bò…

Cuối cùng là món tráng miệng, nên lưu ý dùng thơm (dứa). Thịt nấu với thơm sẽ bị nhũn đi nhờ công dụng phân hủy thịt của thơm. Điều này có thể khiến món ăn không ngon, nhưng lại có lợi cho hệ tiêu hóa vì giúp “thanh toán” nhanh món đạm vốn dễ gây khó tiêu, nặng bụng. Đu đủ cũng có khả năng tiêu thực nhưng chỉ nên dùng một ít, dùng nhiều, lượng đường trong đu đủ khiến gan phải tăng năng suất lao động. Một kinh nghiệm dân gian hữu ích và có thể xem như biện pháp dưỡng sinh là ăn một - hai lát gừng sống sau mỗi bữa ăn. Gừng sống vừa giúp kích thích tiêu hóa vừa làm thơm miệng. Các cụ xưa còn dùng cơm rượu làm món ăn trợ tiêu hóa, làm ấm lòng khi lạnh bụng. Do đó, cơm rượu dùng làm món tráng miệng rất tốt.

Điều cần lưu ý là món ăn dù “nhẹ” đến đâu cũng trở thành “nặng” nếu ngon miệng mà “chén tì tì”. Vì thế, bên cạnh việc sử dụng các món tốt cho cơ thể, cần lưu ý cách ăn: ăn chậm, nhai kỹ, nên buông đũa khi chưa thấy no.

Dinh dưỡng hỗ trợ giải độc cơ thể

Ngay cả những người khỏe nhất cũng có thể bị ngộ độc do quá trình tích lũy chất độc từ thực phẩm chúng ta ăn vào, không khí chúng ta thở, nước chúng ta uống và thậm chí cả những thứ có thể chúng ta bôi lên da.



Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự phơi nhiễm chất độc liên quan với nguyên nhân gây ra 1 loạt các bệnh tật như chứng mệt mỏi mãn tính, nhạy cảm hóa, đau cơ và xơ vữa động mạch hay các vấn đề về sinh sản, suy giảm hệ miễn dịch, chứng đau đầu, đau khớp, có vấn đề về học tập, mất trí, đau và yếu cơ.

Chất độc là gì?

Các độc tố không phải là 1 nhóm các hợp chất hóa học mà là tất cả những gì có thể gây hại cho cơ thể.
Một số độc tố hay chất độc được biết đến như hóa chất công nghiệp, khí thải do đốt cháy, thuốc trừ sâu, các chất làm rối loạn nội tiết (nhựa), hay kim loại nặng, các phụ gia thực phẩm, chất bảo quản và các loại thuốc.

Làm thế nào để loại bỏ độc tố khỏi cơ thể?

Độc tố hòa tan trong nước sẽ thải ra qua đường nước tiểu nhưng những độc tố hòa tan trong chất béo thì lại sẽ lưu ở màng tế bào, môi trường lý tưởng để chúng phát tác. Lúc này hệ thống lọc thải các độc tố hòa tan trong chất béo là thận và mật sẽ thực hiện 2 bước để thải các chất độc này ra khởi cơ thể. Bước thứ nhất sẽ kết hợp độc tố hòa tan trong chất béo này với 1 nhóm phần tử hòa tan trong nước, tạo ra một tổ hợp mà nước đóng vai liên kết; bước 2 sẽ chuyển đổi sự kết hợp giữa chất độc với phân tử nước thành 1 chất vô hại và có thể bài tiết ra ngoài. 2 bước này hoạt động song song và luôn cân bằng. Bước 2 phải luôn theo kịp bước 1 và nếu vì lý do nào đó không đạt được, sẽ dẫn tới sự mất cân đối và tổn thương cho các tế bào sẽ diễn ra.

Dinh dưỡng hỗ trợ giải độc

Các thành phần trong thực phẩm có thể hỗ trợ cho các phản ứng enzyme trong giai đoạn 1 bao gồm niacin (có trong cá, lúa mỳ, ngũ cốc nguyên cám) và chất chống oxy hóa sẽ hỗ trợ các mô bị tổn thương nếu có sự mất cân bằng giữa giai đoạn 1 và 2.

Giai đoạn II đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Dinh dưỡng hỗ trợ sản xuất năng lượng bao gồm vitamin nhóm B, thiamin, riboflavin, niacin và axit pantothenic acid cũng như ma-giê. Các dưỡng chất này thường được tìm thấy trong ngũ cốc nguyên hạt và các loại rau lá. Ngoài ra, các chất dinh dưỡng giúp bảo vệ cơ thể khỏi quá trình ôxy hoá như vitamin C và E, kẽm, selenium, và đồng, cũng rất hữu ích.

Chế độ ăn giàu chất xơ cũng hỗ trợ cho chức năng đường ruột nhờ tạo ra các rào cản giúp giảm thiểu sự thẩm thấu của các chất độc nhưng quan trọng nhất là chất xơ sẽ liên kết các độc tố với nhau khiến chúng không thể xâm nhập vào cơ thể. Khoảng 25% của quá trình thải độc xảy ra trong đường ruột.

Uống đủ nước là rất cần thiết nếu muốn duy trì chức năng thận khỏe mạnh và thúc đẩy sự bài tiết độc tố qua nước tiểu.

Mức đường huyết trong máu cũng rất quan trọng. Thật thú vị là bệnh đái tháo đường là một trong những bệnh liên quan đến sự thay đổi của giai đoạn 1. Vì các enzyme mới cần liên tục được tạo ra, tương xứng với lượng tinh bột - đường, protein và năng lượng từ chất béo (chuỗi triglycerides trung bình). Nhịn ăn không phải là ý tưởng hay vì nó sẽ kích thích hoạt động của giai đoạn 1 trong khi làm giảm các yếu tố để giai đoạn 2 diễn ra bình thường.

Rất nhiều loại dinh dưỡng giúp bảo vệ cơ thể chúng ta khỏi các chất độc hại nhờ kích thích sản xuất các enzyme và làm cho giai đoạn 2 hoạt động hiệu quả như axit ellagic trong quả lựu và họ dâu, catechins trong trà xanh và nho và các glucosinolates tìm thấy trong cải xoong và súp lơ xanh.

Một số thực phẩm hỗ trợ hoạt động của giai đoạn 1 như indole-3carbinol có trong súp lơ xanh. Tuy nhiên nếu giai đoạn 1 bị kích thích quá mức, thường là do hút thuốc, thì sẽ có nguy cơ tạo ra các amin dị vòng.

Tóm lại, hạn chế tối đa tiếp xúc với các chất độc hại chỉ là một phần trong quá trình giải độc cơ thể. Quan trọng hơn là dinh dưỡng đầy đủ mới giúp hỗ trợ và tiêu trừ chất độc, giúp có một sức khỏe bền vững suốt đời.

Ăn sáng thế nào tốt cho dạ dày?

Bữa sáng không chỉ cần đủ chất, đáp ứng nhu cầu năng lượng cho ngày mới, mà còn phải dưỡng sức khỏe, tốt cho dạ dày.



Nên

- Các món ăn nóng như cháo, sữa nóng. Khi vừa thức giấc, thân nhiệt sẽ tăng dần nhưng các cơ quan trong cơ thể chưa thể thích ứng. Nếu lúc này uống các thức uống lạnh sẽ ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, khiến máu khó lưu thông. Trong thời gian dài có thể gây ra cảm giác kém ăn, làm làn da mắt độ sáng bóng, cổ họng thường có cảm giác có đờm, cơ thể dễ bị cảm lạnh. Các triệu chứng này cho thấy dạ dày bị tổn thương, thậm chí còn ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của cơ thể.

- Phối hợp nhiều loại thực phẩm. Bữa sáng nên chọn các món như ngũ cốc để cung cấp đường cho cơ thể, giúp tăng đường huyết. Để cơ thể không đói nhanh, cần nạp một lượng thực phẩm giàu protein và chất béo như trứng gà, thịt nạc, các chế phẩm từ đậu… Sau đó ăn một lượng rau quả thích hợp để bổ sung các vitamin hoà tan trong nước và chất xơ, cùng các nguyên tố vi lượng và khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

Không nên

- Không nên ăn các thực phẩm có nhiều dầu mỡ, bởi các thực phẩm này sẽ tạo gánh nặng cho dạ dày.

- Không ăn thức ăn còn từ hôm trước, đặc biệt là rau vì có thể sản sinh các chất không có lợi cho cơ thể do để qua đêm. Nếu ăn thì cần bảo quản cẩn thận, và đun nóng kỹ.

- Đồ ăn nhanh: các món ăn nhanh như humberger, gà rán…tiện lợi, nhanh gọn, ngon miệng nhưng lại thiếu các vi chất, thừa năng lượng. Nếu chọn đồ ăn nhanh cho bữa sáng thì bữa trưa và tối bạn cần dùng các thực phẩm có hàm lượng nhiệt thấp và nên ăn kèm với hoa quả, canh rau.

- Ăn bánh quy, sôcôla…Những đồ ăn vặt này đa số là thực phẩm khô, cơ thể lúc này đang thiếu nước nên sẽ không có lợi cho việc tiêu hoá. Các thực phẩm như bánh quy, sôcôla…mặc dù có thể cung cấp năng lượng tức thời nhưng cũng rất nhanh khiến cơ thể bị đói.

- Vừa đi bộ vừa ăn sáng. Mua bữa sáng ven đường, vừa đi vừa ăn để kịp giờ học giờ làm giúp tiết kiệm thời gian cho bữa sáng nhưng lại hoàn toàn không có lợi cho dạ dày, hệ tiêu hoá và sự hấp thụ của cơ thể.